Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn LỊCH SỬ. Hiển thị tất cả bài đăng

Việt Nam - Trung Quốc, một lịch sử đau thương!

 Lịch sử bang giao giữa Việt Nam với Trung Quốc là một trường hợp độc nhất vô nhị trong lịch sử nhân loại. Nó được phủ bóng với mật độ dày đặc của các cuộc chiến xâm lược (từ Trung Quốc) và chống xâm lược (từ Việt Nam), với một tần suất mà không có bất kỳ trường hợp nào khác có thể so sánh.

Tính từ thế kỷ thứ 10 đến nay, không dưới 10 lần người Việt phai chịu đựng các cuộc tiến công xâm lăng từ phương Bắc. Năm 938 Ngô Quyền đại phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Người Việt được hưởng hoà bình ít năm, cho đến năm 981, Lê Hoàn phá tan quân Tống. Sang thế kỷ thứ 11, Lý Thường Kiệt mang quân đại phá Ung Châu và lui về đắp lũy trên sông Như Nguyệt. Chiến thắng này của nhà Lý mang lại hoà bình cho Việt Nam đến thế kỷ thứ 13. Từ năm 1258 đến 1288, trong ngắn ngủi có 30 năm, người Việt Nam phải hứng chịu ba cuộc xâm lược tàn bạo đến từ Trung Quốc. Đạo quân xâm lược từ phương Bắc quay lại vào năm 1404. Lần này phải mất 23 năm, đến năm 1427 người Việt mới giành lại được độc lập dưới sự lãnh đạo của Lê Lợi. Đây cũng là lần xâm lược để lại hậu quả đau thương nhất cho văn minh người Việt, khi Trung Quốc thực hiện việc đốt phá kinh sách, đập phá văn bia trong suốt những năm chiếm đóng nhằm hủy diệt văn hoá và đồng hoá Việt Nam. Sang thế kỷ thứ 18, Trung Quốc một lần nữa xua quân chiếm kinh đô Thăng Long. Lần này chúng gặp một đối thủ cứng cựa là vua Quang Trung, bị đánh tan tác và phải tháo chạy về nước sau ít tháng. Cuộc đô hộ 80 năm của Pháp ở Việt Nam khiến các đạo quân xâm lăng phương Bắc bị gián đoạn trong một khoảng thời gian. Đến năm 1974, chúng quay lại chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa. Năm năm sau đó, 30 vạn quân Trung Quốc tràn xuống phía Bắc. Bị chặn lại và phải tháo lui, tuy nhiên tình trạng chiến tranh còn bị duy trì đến tận những năm 1990. Năm 1988, Trung Quốc xua hải quân chiếm đóng một phần Trường Sa. Đến năm 2014, Trung Quốc xua hạm đội và giàn khoan cắm sâu vào lãnh hải Việt Nam, trong một mưu đồ xâm lăng không hề che dấu.

Có thể nói, ý đồ Nam tiến của Trung Quốc, chưa bao giờ phai nhạt trong suốt lịch sử tồn tại của nó. Đây là một mục tiêu xuyên suốt và luôn được kế thừa bởi mọi triều đại nắm quyền tại Bắc Kinh. Ở đây có một liên tưởng lịch sử khá khôi hài là Trung Quốc nhiều lần lớn tiếng đòi Nhật Bản phải hối lỗi về quá khứ xâm lăng trong thế chiến thứ hai. Nhật chiếm đóng Trung Quốc đến nay chỉ duy nhất có một lần. Trong khi nếu nhìn vào mật độ dày đặc của các cuộc chiến xâm lược Trung Quốc tiến hành với Việt Nam, có thể nói đất nước có ít tư cách đòi hỏi người khác phải hối lỗi vì chiến tranh xâm lăng nhất chính là Trung Quốc.

Hầu hết các nước châu Á sống cạnh Trung Quốc đều đối mặt với nguy cơ bị xâm lược. Họ chỉ thoát khỏi bóng ma ám ảnh này khi thật sự mạnh lên và thành công trong tiến trình hội nhập với nền văn minh phương tây. Ngày nay, dù phải đối mặt với một vài nguy cơ xung đột về lãnh hải, nhưng Nhật Bản và Hàn Quốc đều khá an toàn với niềm lực kinh tế hùng hậu và những mối quan hệ đồng minh thân thiết giúp đảm bảo an ninh. Ngược lại, quốc gia đang đứng trước nguy cơ bị xâm lăng ( về lãnh thổ) và thôn tính (về mặt kinh tế) nặng nề nhất tại Á Châu chính là Việt Nam. Có thể nói, chưa bao giờ tương lai của người dân Việt Nam bị đe dọa và thách thức như hiện nay, khi trên biển giàn khoan và hạm đội Trung Quốc đang ngày một tiến sâu vào lãnh hải Việt Nam, còn về mặt kinh tế, Trung Quốc gần như đã biến Việt Nam thành một nền kinh tế phái sinh, lệ thuộc nặng nề và trở thành một công cụ giúp Trung Quốc gia tăng trên 20 tỷ USD thặng dư thương mại hàng năm.

Trong bối cảnh ấy, cơ may cho Việt Nam đến từ Shangri la, một hội nghị an ninh toàn cầu được tổ chức tại Singapore, nơi Trung Quốc phải chịu những đòn lên án nặng nề từ hầu hết các nước tham dự do dã tâm xâm lược của nó. Việt Nam đến hội nghị với sự dẫn đoàn của ông Phùng Quang Thanh, đương kim bộ trưởng Quốc Phòng. Thông điệp của ông Thanh khá mù mờ và méo mó, khiến nhiều nước tham dự hội nghị không rõ Việt Nam đang thực sự muốn gì. Dường như xuyên suốt tham luận của ông Thanh, chỉ là mong muốn Trung Quốc kéo giàn khoan về, còn mọi thực trạng giữa Trung Quốc với Việt Nam hiện tại đều đáng hài lòng, như nhận xét ông ta nhiều lần nhất mạnh. Vị đại tướng béo tốt này có vẻ không tính đến thực tế bất lợi gần như tuyệt đối trong giao thương với Trung Quốc của Việt Nam hiện nay. Ông ta có vẻ cũng không tính tới thực tế là nhiều quốc gia khác đang muốn liên minh hay hỗ trợ Việt Nam, sẽ phai e ngại thực tế bị Việt Nam bán đứng nếu Trung Quốc chìa tay ra giúp xoa dịu để Việt Nam duy trì nguyên trạng sau khi đọc diễn văn của ông ta tại hội nghị. Cảm giác rõ nét nhất là tính rối rắm trong thông điệp của ông Thanh. Có thể nói viên tướng béo tốt này có ít khí chất của một quân nhân nhất so với những người tiền nhiệm của ông ta, vốn đều từng được tôi luyện trong các cuộc chiến chống ngoại xâm liên tiếp của Việt Nam trong thế kỷ 20.

Nếu ông Thanh muốn gửi đến Trung Quốc một thông điệp mềm mỏng có phần quỵ lụy, ông ta đã làm tốt và thành công vượt mức mong đợi. Ngược lại, những quốc gia đang trông đợi ở Việt Nam một thông điệp ngoại giao đơn giản và rõ ràng, ít nhiều sẽ thất vọng. Chắc chắn họ sẽ phải tính toán kỹ trong bài toán liên minh hay trợ giúp Việt Nam, vì nếu lịch sử Việt Nam lừng tiếng với những vị tướng chống ngoại xâm, thì nó cũng có không ít vết đen bởi những cái tên bán nước như Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống hay mới đây hơn là Hoàng Văn Hoan.

Trong những ngày gần đây, có lẽ thứ đang được nhắc đến nhiều nhất ở Việt Nam, là hai câu hỏi: Làm sao để Trung Quốc rút giàn khoan? Và làm sao thoát Khựa?

Nếu câu hỏi thứ nhất là dễ trả lời bởi kiểu gì Trung Quốc cũng sẽ rút trước mùa bão năm nay. Nhưng chúng sẽ quay lại, đông hơn, mạnh hơn nếu người Việt không trả lời được câu hỏi thứ hai: Làm sao thoát Khựa? Thoát về kinh tế, thoát về ngoại giao, thoát về bản sắc văn hoá, thoát về chính trị và đương nhiên mạnh mẽ về quân sự để tự bảo vệ được mình.

Có khá nhiều ý kiến và tranh luận sôi nổi của giới trí thức Việt Nam, những người có tầm nhìn xa, về các giải pháp để thoát dần khỏi sự lệ thuộc kinh tế, về các cải cách cần thiết đối với hệ thống chính trị, về các mối liên minh chính trị, quân sự, ngoại giao tiềm năng... Hầu hết đều nói đúng, nhưng thứ quan trọng nhất thì không thấy ai đề cập đến: Ai sẽ làm, hoặc cho phép làm tất cả những giải pháp và định hướng đúng đắn ấy?

Câu chuyện quay ngược trở về xuất phát điểm ban đầu: Mục tiêu của chế độ chính trị Việt Nam hiện nay, họ đang muốn cái gì?

Họ muốn đất nước đi lên? Họ muốn Việt Nam độc lập, hùng mạnh? Hay đơn giản là mong muốn duy trì quyền cai trị và đặc lợi càng lâu càng tốt?

Trong hai mươi năm qua, có thể nói chế độ chính trị Việt Nam rất thành công khi củng cố quyền cai trị tuyệt đối trên một nền tảng hủ bại về lý tưởng. Kết quả là Việt Nam có một nền kinh tế ì ạch rất nhiều so với tiềm năng, mức độ tham nhũng gia tăng theo cấp số và kinh tế ngày một lệ thuộc nặng nề vào Trung Quốc. Nếu chế độ chính trị của Việt Nam vẫn tiếp tục như hiện nay, tương lai tất yếu của chúng ta sẽ là Tân Cương hay Tây Tạng. Lối thoát duy nhất, là những cải cách cần thiết để Việt Nam thoát Khựa thành công, là sự gắn kết về kinh tế, chính trị, văn hoá với Nhật, Mỹ và Phương Tây.

Nếu có điều gì người Việt cần phải làm trong thời khắc sống còn này, chính là làm mọi điều có thể để biến cái mong muốn đó thành hiện thực. (Phần này anh Lãng lược bỏ 5000 chữ và sẽ viết riêng trong một thiên Lãng luận có tiêu đề "Giải pháp" hoặc "làm cái đéo gì giờ?")



Lang thang mạng, anh thấy Lãng bạn anh có những cái tư tổng kết rất hay, anh xin phép cốp về đây thi thoảng cần cho dễ tìm...

Việt Nam 200 Năm lược sử

Việt Nam 200 Năm lược sử

Như đã nói, a Phập tên giấy khai sinh là Lo Van Phap không là sử gia, dưng dcm, lịch sử phải chính xác đéo cần 100% thì cũng cần đảm bảo 90%, ít nhất là như thế, đéo ai lịch sử biên như dã sử thế kia thì còn ai tin và học lịch sử nữa, cái này khỏi nói nhiều.

Anh chỉ biên trong vòng 200 năm lịch sử Việt nam từ năm 1800 đến nay và đồng thời lồng xem tại mỗi thời điểm tương ứng trên thế giới đang có những cuộc cánh mạng gì, cuộc cách mạng về khoa học kỹ thuật, cách mạng về tư sản, cách mạng về  tình dục…để nhân dân tiện so sánh đối chiếu…
 
Năm 1801, Vua thứ 2 nhà Tây Sơn tức Nguyễn Quang Toản niên hiệu Cảnh Thịnh nối nghiệp tiếp quản cơ ngơi lẫy lừng của hoàng đế Quang Trung bất hủ đã thống nhất được Việt nam, nước Việt ta liền một dải từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau được 9 niên, triều đình lúc này đã bắt đầu mục ruỗng do sự chuyên quyền của gia đình bên vợ Vua đứng đầu là Thái sư Bùi Đắc Tuyên, làm cho quan lại trong triều hỗn loạn cắn xé nhau, chia bè kéo đảng, vua không giữ được triều chính. Lúc này Nguyễn Ánh với sự hậu thuẫn của Pháp quay lại tấn công nhà Tây Sơn một cách ác liệt, đất nước lại trong cảnh lầm than tang tóc. Một ngày đẹp giời tầm tháng 8 cùng năm vua Cảnh Thịnh bèn đổi niên hiệu thành Bảo Hưng với mong ước ban đầu cho nhà Tây Sơn thêm Hưng Thịnh. Dưng mệnh trời vắn số, năm 1802, vua Nguyễn Ánh đã bại được nhà Tây Sơn lên ngôi vua lấy niên hiệu là Gia Long. Vua Nguyễn Quang Toản giả thì bị Nguyễn Ánh giết mất, vua thật thì giả làm thường dân chạy về quê họ Hồ sống lẫn với những người dân ở quê hương nơi chôn rau cắt rốn ở vùng núi Đại Huệ-Nam Đàn-Nghệ An, nơi xưa vua cha Quang Trung từng làm nơi luyện quân và cúng trời đất trước khi tiến đánh 20 vạn Quân Thanh lẫy lừng thủa xưa, mưu đồ phục quốc nhưng bất thành, cuối cùng chết âm thầm ở đó. Hiện mộ vua vẫn còn ở ngay cạnh ngôi chùa cổ Đại Tuệ (Hơn 600 năm)  trên đỉnh núi. Hàng trăm năm nay, cứ đến ngày 20/10 (âm lịch) người dân họ Hồ ở Nam Đàn, Hưng Nguyên (Nghệ An) lại tổ chức ngày giỗ cho vua Cảnh Thịnh (Nguyễn Quang Toản) trên núi Đại Huệ (xã Nam Anh, Nam Đàn).  
 
 Vua Gia Long tồn tại được gần 20 niên, mất năm 1820 và nhường ngôi cho con trai là vua Minh Mạng (1820-1841), kế tục là vua Thiệu Trị (1841-1847), tiếp theo là vua Tự Đức (1847-1883). Cũng trong thời gian này, cuộc cánh mạng công nghiệp tại Âu châu phát triển mạnh mẽ và rực rỡ, đạt được nhiều thành tựu khoa học làm nền móng cho nền công nghiệp toàn thế giới sau này, điển hình là cuộc cách mạng công nghiệp Anh, nơi phát minh ra đầu máy hơi nước, hỏa xa,…tiền đề của cuộc đại công nghiệp. Ở Việt Nam thời kỳ này cũng có một nhà tư tưởng nổi tiếng Tây học, một nhà cách tân vĩ đại nhất mà đất nước Việt Nam từng sản sinh ra, ông muốn đem những cái ông thấy, những cái ông biết, những kiến thức ông đã từng kinh qua, tất cả hiểu biết để giúp dân giúp nước, nhưng tiếc hay Tự Đức là hôn quân đã không biết nghe theo các lời khuyên của ông, thậm chí còn từ chối ông, rất nhiều giai thoại là vua Tự Đức cho rằng làm gì có đèn treo ngược mà vẫn sáng,  đi lại không cần ngựa kéo mà xe vẫn chạy rầm rầm, thuyền không cần chèo mà vẫn ngược dòng nước ro ro… như ma làm. Ông là nhà cách tân vĩ đại, anh nhấn mạnh là nhà cách tân vĩ đại Nguyễn Trường Tộ người con đất Nghệ An sỏi đá cằn khô, dân Tây học, y thuật lý số thông thạo, giỏi ngoại giao, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp…nói như ngôn ngữ kiếm hiệp là trên thông Thiên Văn, dưới tường Địa Lý, giữa thì cái gì cũng biết, đó mới là người thực tài. Tiếc thay, ông phải về quê vì không ai trọng dụng, một nhân tài đã ra đi vào ngày đẹp trời năm 1871, kể từ khi Việt nam bị Pháp đánh chiếm lần đầu năm 1858, Nguyễn Trường Tộ cũng làm một nhà ngoại giao xuất sắc đại tài để tạm hòa hoãn với Pháp mở rộng bang giao dưng cũng không được hôn quân chấp nhận những năm 1862 về sau, nhiều việc trình lên nữa không ai nghe vì ông rất thân các giám mục Pháp và cô lập, ông chán nản bỏ về quê vùng Nghệ An sống nốt cuối đời.
 
Trong từ năm 1802 đến 1858, trong vòng 56 năm đất nước thật sự thanh bình, không có cuộc chiến tranh chống ngoại xâm nào hao binh tổn lực cho đến khi Pháp nổ súng đánh chiếm tại Đà Nẵng. Năm 1862, Vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng ba tỉnh miền Đông cho Pháp. Năm 1867, Pháp chiếm nốt các tỉnh miền Tây để tạo thành một lãnh thổ thuộc địa Cochinchine (Nam kỳ). Sau khi củng cố vị trí vững chắc ở Nam Kỳ, từ năm 1873 đến năm 1886, Pháp xâm chiếm nốt những phần còn lại của Việt Nam ở Bắc Kỳ. Đất nước Việt Nam liên tiếp trải qua 28 năm chiến tranh liên miên bắt đầu từ năm 1858 đến 1886, khói lửa điêu tàn trải khắp 3 miền với hàng chục cuộc khởi nghĩa nông dân điển hình hưởng ứng chiếu Cần Vương năm 1885 đến 1896. Các cuộc khởi nghĩa hưởng ứng lời kêu gọi của vua Hàm Nghi gồm có: 
+ Khởi nghĩa Hương Khê (1885-1895) của Phan Đình Phùng, Cao Thắng ở Hương Khê, Hà Tĩnh.
+  Khởi nghĩa của Nguyễn Xuân Ôn - Nghệ An 
+ Khởi nghĩa Ba Đình  (1886-1887) của Đinh Công Tráng, Phạm Bành ở Nga Sơn Thanh Hóa
+  Khởi nghĩa của Mai Xuân Thưởng - Bình Định 
+ Khởi nghĩa Hùng Lĩnh (1886-1892) của Tống Duy Tân ở Bá Thước và Quảng Xương 
+ Khởi nghĩa Bãi Sậy (1885-1889) của Nguyễn Thiện Thuật ở Hưng Yên 
+ Khởi nghĩa Sông Đà (1885-1892) của Đốc Ngữ (Nguyễn Đức Ngữ) ở Hòa Bình
 
Thành công nhất của của khởi nghĩa nông dân là của Hùm thiêng Yên Thế với 4 giai đoạn gần 30 năm từ năm 1884 đến 1913 cũng bị Pháp dìm trong bể máu. Sau thất bại của cuối thế kỷ 19, người Pháp đã cũng cố hoàn toàn việc tổ chức cai trị tại Việt Nam. Cuộc cải cách trong giáo dục trong thập niên 1910 đã xóa bỏ hoàn toàn nền nho học với chữ Hán cả nghìn năm trong chế độ phong kiến Việt Nam để thay thế bằng phong trào tân học theo chữ Quốc ngữ đã tạo ra một tầng lớp trí thức mới, đó là những người xuất thân từ truyền thống nho giáo nhưng được tiếp cận với văn hóa Âu Châu. Đại diện tiêu biểu cho giới này là Phan Chu Trinh và Phan Bội Châu đã mở đầu cho phong trào Duy Tân và phong trào Đông Du vận động tăng cường dân trí, dân chủ, nhân quyền và cải cách xã hội cho người Việt trước tầng lớp người Pháp cai trị, sự phát triển các phong trào này sau đó bị chính quyền thực dân dẹp bỏ vì nhận thấy nguy cơ đối với chế độ thuộc địa của họ.
 
Cuối thập niên 1920, những người Việt cấp tiến dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa Tam Dân đã thành lập Việt Nam quốc dân Đảng đến năm 1930, cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Thái Học thất bại, Việt Nam Quốc dân Đảng bị suy yếu nghiêm trọng. Cùng năm đó, một số thanh niên Việt Nam theo chủ nghĩa Mác- Lê thành lập ĐCS Đông Dương, nhưng cũng mau chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt của Pháp. Đến 1945, Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn, chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, người Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh và làm bùng lên nạn đói Ất Dậu Niên.
 
Trong thời gian này, sau khi đại thành công trong cuộc cách mạng công nghiệp trên toàn Âu châu và Mỹ, thế giới trải qua 2 cuộc chiến tranh thế chiến kinh hoàng tang tóc đỉnh cao là 2 quả Bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagaisaki, tổng cộng làm chết tầm gần hơn 50 triệu người trên toàn thế giới.
Việt Nam bắt đầu giai đoạn trường kỳ kháng chiến 1945-1954 với sự giúp sức của hỏa lực phi pháo và chuyên gia cố vấn Tung-cửa cùng với Đại tướng Võ Nguyên Gíap chỉ huy chiến dịch đã thành công mỹ mãn, mở đầu độc lập cho VNDCCH, sau đó 21 năm thì Việt Nam thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975.

 
Giai đoạn từ 1976 Khơ me đỏ bắt đầu khiêu khích và Việt nam tình nguyện giúp bạn Căm-Pốt nạn diệt chủng, đến năm 1979 lại bị Tung-cửa gây chiến làm nên cuộc chiến tranh biên giới và đến năm 1988 tiếng súng vẫn còn lác đác vang lên, sự hi sinh của những anh hùng tại đảo Gạc-Ma cùng năm là một minh chứng hùng hồn cho tinh thần hi sinh cao cả.

 
Từ đó đến nay, trải qua 26 năm bình yên tiếng súng, tập trung cho đất nước phát triển kinh tế cho đến bây giờ.

 
Lịch sử Việt Nam từ năm 1800 đến 2014 qua hơn 214 năm rất dễ hiểu và súc tích, anh biên vội chỉ có 2 trang A4,  thật sự hòa bình tập trung phát triển kinh tế rất ít nếu nhìn vào con số, hòa bình được 107 năm và 107 năm là chiến tranh chia ly loạn lạc, cụ thể:
+ Từ 1802-1858: Đất nước yên bình trong 56 năm
+ Từ 1858-1913: Chiến tranh loạn lạc trong 55 năm
+ Từ 1913-1940: Đất nước yên bình trong 27 năm
+ Từ 1941-1979: Đất nước chiến tranh loạn lạc trong 38 năm
+ Từ 1979-1989: Làm tình nguyện giúp Căm-Pốt 10 năm
+1990-2014: Bình yên phát triển đất nước 24 năm 


 

Chuyện Khựa đi trường bắn

Chuyện Khựa đi trường bắn tập thể và bọn Hàn đi bắn ở khu Trung Hòa Nhân Chính nhẻ, đặt gạch phát đã biên sau

Chính Lưu Bị là người giết Quan Vân Trường


Thứ trưởng Bộ Điện ảnh-Truyền hình TQ Lưu Tập Lương trao giải cho Chủ Blog tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh...
Năm 1992, Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc tổ chức cuộc thi: Tìm hiểu lịch sử, văn hóa Trung Quốc Cup Giai Lệ. Cuộc thi kéo dài suốt từ năm 1991 sang năm 1992.
Cuộc thi tổ chức cho tất cả thính giả nghe đài của tất cả các thứ tiếng. Có 10 câu hỏi, thính giả nào trả lời được coi như đã nắm được những gì là cơ bản nhất của văn hóa Trung Hoa.
Cuộc thi đã thu hút trên 100.000 thính giả của hơn 100 nước dự thi, Việt Nam có hơn 1.000 người dự thi. Cuộc thi bao gồm 1 hệ thống giải từ giải nhất đến giải tư được Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc gửi tặng thưởng tới tận tay.
Ngoài hệ thống giải chính thức này, Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc đã trao 6 giải đặc biệt cho 6 thính giả có bài dự thi xuất sắc nhất, 6 thính giả này được Đài mời thăm Bắc Kinh 1 tuần vào cuối tháng 11/1992; đi về bằng vé máy bay do Đài này đài thọ.
6 nước có thính giả được nhận giải đặc biệt là Ấn Độ, Pakistan, Xri Lanca, Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam. Tôi, chủ Blog là thính giả Việt Nam được trao giải này tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh. Hai người trực tiếp trao giải cho tôi là ông Lưu Tập Lương-Thứ trưởng Bộ Điện ảnh Phát thanh và truyền hình và ông Lưu Đức Hữu-Thứ trưởng Bộ Văn hóa Trung Quốc.
Sở dĩ tôi nhận được Giải đặc biệt là do ngoài việc trả lời được 10 câu hỏi trên, là điều mà nhiếu người dự thi đã làm được, tôi đã phát biểu một số ý kiến về quá trình tiếp nhận văn hóa Trung Hoa của mình qua kênh văn học…Tôi đã nhắc tới hình tượng Gia Cát Khổng Minh của bộ tiểu thuyết Tam Quốc diễn nghĩa, một thần tượng mê say của tôi khi tôi còn bé. Thế nhưng khi đã trưởng thành, tôi bắt đầu nhận thức được thực ra rằng: do văn tài của La Quán Trung nên đã tô vẽ làm quá lên chân tài của Gia Cát Lượng ; qua ngòi bút của La Quán Trung người đọc thấy hình như Lưu Bị là kẻ ú ớ chính trị.
Bằng những sự kiện, cứ liệu của ngay chính Tam Quốc diễn nghĩa, tôi đã chứng minh Gia Cát Lượng đã phạm tới 5 sai lầm có tính chiến lược; do 5 sai lầm chiến lược này tôi có nhấn mạnh tới 2 sai lầm lớn: đưa quân Bình Man, ( Trong TQDN gọi là 7 lần bắt 7 lần tha Mạnh Hoạch; ngầm ám chỉ cuộc chiến tranh biên giới năm 1979) và việc sai Quan Vũ đánh Uyển Thành…là những nước cờ chiến lược sai lầm, những nước cờ căn cốt này đã dẫn Thục Hán đến bờ sụp đổ, bại vong…
Theo tôi, sở dĩ tôi được Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc trao giải vì đã có ý kiến kể trên, đề nghị xem xét lại chân tài của một nhà chính trị được chính giới Trung Quốc nhiều đời đánh giái là vĩ nhân, kiệt xuất; người Trung Quốc có câu: Vạn đại quân sư Gia Cát Lượng; Thừa tướng muôn đời Lưu Bá Ôn…
Ý kiến này sau đó tôi đã công bố trên Tạp chí Truyền hình và Lao động Xã hội vào giai đoạn 1993-1994; được đưa vào Tập bút ký, phóng sự điều tra: Mặt trái của cơ chế thị trường-Nhà xuất bản Văn hóa-Thông tin ấn hành năm 1996; bài viết có tiêu đề: Những sai lầm chiến lược của vạn đại quân sư Gia Cát Lượng…
Điều bất ngờ là năm 2005, trên Quang Minh nhật báo, một tờ báo xuất bản tại Hồng Kông cũng đã xuất hiện loạt bài của Giáo sư Chu Tử Ngạn, những ý kiến rút từ trong tập Đưa Gia Cát Lượng ra khỏi thánh đường; cuốn sách này được công bồ với hàng loạt những khảo cứu từ nhiều nguồn tư liệu của Trung Quốc nhằm mục đích hạ bệ thần tượng Gia Cát Lượng. Trong tập khảo cứu này, Chu Tử Ngạn mới hạ bệ Gia Cát Lượng mà chưa hạ bệ Lưu Bị.
Một trong những ý kiến phân tích tâm tài của Khổng Minh, Chu Tử Ngạn có nhắc tới trận Uyển Thành mà ông cho là sai lầm của Gia Cát Lượng, sai lầm đã đấy Thục Hán đến chỗ bại vong. Ý kiến này của Chu Tử Ngạn hoàn toàn trùng với ý kiến của Chủ Blog này được nêu trước Chu Tử Ngạn gần 15 năm.
Chu Tử Ngạn cho rằng: đánh Uyển Thành là nước cờ Gia Cát Lượng bày đặt ra để đẩy Quan Vũ vào chỗ chết để tạo cơ hội cho mình leo lên được ngôi vị thứ 2 trong tập đoàn quân phiệt Lưu Bị. Bởi vì, sau trận đại chiến Xích Bích, Chu Tử Ngạn đã tìm thấy cứ liệu cho thấy: lương của Gia Cát Lượng được Lưu Bị trả cho là mức lương của Quân sư trung lang tướng; mức lương cũng chỉ bằng lương của Triệu Vân; tức Gia Cát Lượng cũng chỉ được xếp hàng thứ năm, thứ sáu. Nếu diệt được Quan Vũ thì nghiễm nhiên Gia Cát Lượng sẽ chỉ còn đứng dưới 1 người và đứng trên vạn người…
Tóm lại trong cuốn khảo cứu Đưa Gia Cát Lượng ra khỏi thánh đường…công bố năm 2005, một trong những luận thuyết mà Chu Tử Ngạn đã đưa ra để chứng minh, lật đổ thần tượng Gia Cát Lượng: Trận đánh Uyển Thành là nước cờ đầy dã tâm của Gia Cát Lượng nhằm hạ sát Quan Vũ?
Khi Trung Quốc đưa ra giả thuyết này năm vào năm 2005, trùng với ý kiến mà chủ blog đã nêu vào năm1991, đọc những kiến giải này của Chu Tử Ngạn, chủ Blog lại có cách kiến giải khác. Theo ngu ý của Chủ Blog thì kẻ nuôi dã tâm đẩy Quan Vũ vào chỗ chết chính là Lưu Bị, ông anh kết nghĩa vườn đào khi xưa của Quan Vũ chứ không phải là Gia Cát Lượng.
Lễ kết nghĩa vườn đào đã đi vào lịch sử Á Đông như một thứ khuôn mẫu về tình nghĩa thủy chung của những con người cùng chí hướng ( đồng chí ), cùng nhau gắn kết để mưu sự nghiệp lớn…Do vậy nhắc lại chuyện Lưu Bị- Quan Vũ trong lúc này cũng là cần thiết, nhất là trong bối cảnh Trung Quốc-Việt Nam một mặt vẫn gầm ghè nhau trên biển Đông, mặt khác cũng lại chuẩn bị một lễ kỷ niệm hoành tráng 60 năm thiết lập quan hệ hữu nghị Việt-Trung; một cái lề kết nghĩa vườn đào thời hiện đại được bảo lãnh bằng 16 chữ vàng ?
Sau đây mời bà con đọc lại những kiến giải này của chủ blog đã được đăng trên Vietnamnet vào năm 2008…
Mắc sẵn mồi thơm giật cá ngao…
Trong Tam Quốc diễn nghĩa, La Quán Trung mô tả khi nghe tin Quan Vũ bị Đông Ngô bắt giết, Lưu Bị nhiều lần khóc ngất đi và thề sẽ cử binh đánh báo thù cho Quan Vũ, mặc cho nhiều tướng khuyên can. Một thủ lĩnh, cầm trong tay binh hùng tướng mạnh như Lưu Bị, đẩy người em kết nghĩa đánh liều mạng vào nơi nguy hiểm, khi bị vỡ trận lại không hề cắt cử quân đi cứu, cho dù trên danh nghĩa, có thể đi mà không cứu được, để cho sự biến xảy ra rồi mới kêu khóc như đàn bà phỏng có tin được?!
Việc Quan Vũ bị nguy khốn, Lưu Bị phải biết tin trước hàng tháng trời? Bỏ mặc Quan Vũ tự xoay xở sống chết với quân Ngô, quân Tào, có đúng chỉ là dã tâm của Gia Cát Lượng như chủ kiến của Chu Tử Ngạn và một số học giả Trung Quốc khác đã lên tiếng?
Vào thời điểm đó, Gia Cát Lượng mới giữ chức Quân sư trung lang tướng, giống với công việc của “ Nhà thầu tư vấn thiết kế” trong các dự án đầu tư thời hiện đại. Mọi quyết sách chắc chắn nằm trong tay Lưu Bị, Lưu Bị mới là chủ đầu tư, chủ tài khoản của mọi “dự án” khởi binh của nhà Thục Hán. Vào thời điểm phát binh đánh Uyển Thành hoàn toàn khác với giai đoạn bảy lần khởi binh ra Kỳ Sơn sau này của Gia Cát Lượng.
Khi tiến hành các chiến dịch Bắc phạt, Gia Cát Lượng đã được phân cấp, với chức danh Thừa tướng, Gia Cát Lượng thật sự là “chủ đầu tư dự án”, còn hậu chủ Lưu Thiện chỉ sắm vai “chủ quản đầu tư”...Do đó, trách nhiệm về thất bại trong chiến dịch đánh Uyển Thành dẫn đến Quan Vũ bị giết, không thể đổ lên đầu Gia Cát Lượng.
Cũng giống như trách nhiệm về 7 lần ra Kỳ Sơn và lần cuối chém chết Nguỵ Diên sau này thuộc về Gia Cát Lượng chứ không thể quy cho hậu chủ Lưu Thiện. Theo chúng tôi nếu Gia Cát Lượng là kẻ “chủ mưu”, là người úm Lưu Bị trong vụ để mất Kinh Châu thì làm sao có thể sống nổi với Lưu Bị được, sau này làm sao Lưu Bị còn phó thác con côi?
Chúng tôi đồ rằng, “Dự án đầu tư” phát binh đánh Uyển Thành cho dù do tư vấn lập nhưng đã được bàn tính kỹ, được đích danh Lưu Bị phê duyệt cẩn thận. Khi triển khai dự án này, Lưu Bị đã tính toán kỹ hết các khả năng của cả 3 phương án: thành công mỹ mãn, hoà vốn, gặp rủi ro và thua cháy tui... Một con người già nửa đời cầm quân không thể không so đo tính toán thiệt hơn, không thế ú ớ khi tự mình cầm quân đi.
“ Doanh nhân” Lưu Bị cũng đã rà tính hết tất cả đáp án của các phương án “kinh doanh” kể cả xấu nhất: nếu gặp rủi ro cháy túi thì sẽ tìm cách thu lãi ở “quả” khác, coi như một cú thăm dò thị trường. Phát động chiến dịch quân sự đánh Uyển Thành, Lưu Bị đã có các tính toán sau đây:
1/ Về nội trị:
Khi mới khởi nghiệp, nhà Đông Hán đang ở thời kỳ loạn ly, do đó Lưu, Quan, Trương kết nghĩa với nhau, dựa vào nhau để cùng tồn tại, cùng mưu sự nghiệp lớn. Khi Lưu Bị đã chiếm được Kinh Châu và thu thêm cả Tây Thục thì mối quan hệ Lưu, Quan, Trương từ quan hệ “huynh đệ” chuyển qua quan hệ “vua tôi”, có trên có dưới, giữ nghĩa nhưng phải theo lễ: khuôn phép chứ không còn xuế xoà anh anh, tôi tôi, “ăn cùng mâm, ngủ cùng chiếu” như thuở hàn vi. Đây chính là nguyên nhân mà khi thành đạt nhiều hoàng đế đã chém chết đại thần, những người cũng mình đồng cam cộng khổ trong thời nằm gai nếm mật. Không nói đâu xa, ông tổ của Lưu Bị là Hán Cao Tổ, khi thành đế nghiệp thì diệt luôn Hàn Tín, và bao đại thần khác...

Qua Tam Quốc diễn nghĩa và qua nhiều sử sách cho thấy: Quan Vũ là kẻ kiêu ngạo, cuồng vọng, cậy khoẻ, không coi ai ra gì. Khi đã trở thành hoàng đế, Lưu Bị chắc chắn không khỏi có lúc khó chịu, bị mất mặt vì cá tính giang hồ, thảo khấu đó của Quan Vũ. Chưa nói trong trận Xích Bích, Quan Vũ không lập được công cán gì, giao cho đi đánh chặn Tào Tháo, kẻ thù không đội trời chung của Lưu Bị, vì “ nể nang” với tình xưa nghĩa cũ mà tha cho Tào Tháo chạy thoát. Tuy Lưu Bị không xử Quan Vũ theo quân lệnh nhưng chắc chắn trong bụng không ưa gì Quan Vũ.

Khi Lưu Bị vào Tây Thục giao cho Quan Vũ cai quản 9 quận Kinh Tương và 4 quận mới thu về, đáng lẽ được như vậy Quan Vũ phải nhũn nhặn, biết điều, biết ơn huynh trưởng: đối đãi với mình như vậy cũng là hậu. Được ngồi một chỗ “thơm”, chỉ việc đánh cờ, giữ nhà lại không biết thân biết phận còn “tinh tướng”, tỏ thái độ đòi hỏi, suy bì hơn kém với Mã Siêu, Hoàng Trung, khi nghe tin họ có tên trong danh sách được phong Ngũ hổ đại tướng ngang hàng với mình; lúc đầu Quan Vũ có ý định từ chối không nhận.
Lưu Bị muốn làm nên đế nghiệp phải dựa vào nhiều người, cho dù Quan Vũ có “ thâm niên” theo Lưu Bị hơn, nhưng thử hỏi với những gì Quan Vũ đã làm, được thêm chức lại có quyền, hơn hẳn các tướng khác mà còn chưa chịu thì “huynh” biết xử với “đệ” và các tướng lĩnh khác như thế nào? Theo chúng tôi đó là bất đắc ý nhứ hai của Lưu Bị đối với Quan Vũ. 

Đã không bỏ công sức ra nhiều mà lại còn đòi được ngồi ”mâm trên” thì “huynh”cũng phải cho “đệ ” biết thế nào là lễ độ, cho đệ thử một mình cầm quân ra đối địch với quân Tào xem sao, xem đệ có ngông nghênh được không. Cử Quan Vũ mang 3 vạn quân đi đánh Uyển Thành là một việc làm quá sức đối với Quan Vũ. Với việc này, Lưu Bị nhằm mục đích dạy cho Quan Vũ biết lễ độ với mình, biết điều hơn, không “gây gổ” với đám Hoàng Trung, Mã Siêu, Triệu Vân...
Đừng tưởng ông anh chú đánh được Ích Châu và Hán Trung ngon xơi lắm. Nếu đệ tài, giỏi, đánh được Uyển Thành thì hoan nghênh đệ, đệ xứng đáng đứng sau huynh và đứng trên đám tướng lĩnh khác; nếu không làm được thì đệ phải biết lễ độ, không được tinh tướng, ra vào, nói năng phải khuôn phép, đừng có động tý lại đỏ mặt lên, lại vuốt râu mà xưng ta đây. Bây giờ huynh là vua của thiên hạ chứ đâu có còn anh anh, tôi tôi với riêng đệ. Huynh không bảo được đệ làm sao bảo được đám quần thần trăm người trăm bụng...
2/ Về ngoại giao:
Thứ trưởng Bộ Văn hóa TQ Lưu Đức Hữu bắt 2 tay chúc mừng chủ Blog tại Đại lễ đường nhân dân Bắc Kinh năm 1992; Đứng cạnh là Giám đốc Đài Hứa Hạo Đình...
Sau khi thu phục được Ích Châu, Hán Trung, buộc Tào Tháo phải bỏ của chạy lấy người, cộng với 13 quận Kinh Tương, thế và lực của Bị đã trở nên cực lớn khiến cho cả Ngô, Nguỵ phải kiêng dè.
Bản thân Lưu Bị không thể không ngộ nhận, choáng về khả năng và sức lực của mình. Mặt khác tham vọng lãnh thổ, bành trướng đất đai là loại tham vọng không có điểm dừng. Đánh Uyển Thành vừa là “bài thi” Lưu Bị đưa ra để “sát hạch” Quan Vũ, ngoài ra còn là một phản ứng thử thời vận của Lưu Bị.
Một con người như Lưu Bị không bao giờ thoả mãn với những gì có trong tay như Lưu Biểu, Lưu Chương, Trương Lỗ... Nếu quả thật “vận số” nhà Hán một “thương hiệu” mà Lưu Bị đang “kinh doanh” đang có hiệu quả, đang “vào cầu”, còn có thể ăn nên làm ra thì biết đâu, phá xong Uyển Thành, quân Tào Tháo nao núng, nhân cơ hội này thôn tính luôn Trung Nguyên. Thời cơ, thời vận không thử, không phiêu lưu làm sao biết được, làm sao đến được... Bao năm Lưu Bị chỉ biết chạy dài và phòng thủ, giờ Lưu Bị chuyển sang “lối đá Hà Lan”, tấn công và gây sức ép toàn sân, hết thảy mọi vị trí, hễ khoan thủng được chỗ nào là ào luôn vào mũi đó...
Sau khi bình xong Tây Thục, Lưu Bị từng giao kèo với Lỗ Túc sẽ trả lại Kinh Châu cho Tôn Quyền, Lưu Bị không muốn trả, tất nhiên Quan Vũ cũng không đời nào chịu buông cái mảnh đất béo bở mà mình đang cai quản. Quan Vũ luôn “cà khịa” với Tôn Quyền, với Lỗ Túc là bởi nếu minh ước này được tuân thủ thì Quan Vũ mất chỗ, mất ghế. Về phía Tôn Quyền thì sau khi đã nhịn nhục gả em gái của mình cho Lưu Bị hơn em mình mấy chục tuổi, mong dùng gái trinh “hối lộ” Lưu Bị, nhằm lấy lại được thêm mấy thước đất cho bõ công cất quân ra đánh nhau với Tào Tháo trong trận Xích Bích và khỏi mất mặt với đám quần thần. Không lấy lại được đất, Tôn Quyền cho bắt em gái về. Mất vợ, Lưu Bị cắt luôn tình giao hảo, minh ước liên minh Ngô Thục này coi như chỉ còn trên giấy.
Như vậy khi phái Quan Vũ đánh Uyển Thành, Lưu Bị chắc chắn cũng đã lường trước việc khả năng Tôn Quyền trở mặt đánh úp Kinh Châu; thế tại sao Lưu Bị vẫn cho tiến hành chiến dịch phiêu lưu quân sự này mà không đề phòng Tôn Quyền xấu chơi, trở mặt?
Phát động chiến dịch Uyển Thành, một mũi tên Lưu Bị bắn ra nhằm tới nhiều mục đích: Thử thời vận, nếu Tào Tháo đến thời mạt vận thì chơi luôn Tào Tháo; nếu Quan Vũ không làm nên công cán gì thì đây là bài học để dạy cho gã “hãnh tướng” này biết lễ độ. Còn nếu Tôn Quyền thừa cơ Kinh Châu bỏ trống, xông sang “đánh trộm” thì Lưu Bị sẽ có cớ cử đại quân sang nói chuyện phải trái với Tôn Quyền. Quân của Lưu Bị bây giờ đang rỗi, đang sung, đang “ngứa ngáy” chân tay. Nếu không đánh được Nguỵ thì nhất quyết Thục phải quay sang tìm cớ “chơi” Ngô. Chín quận tám mươi mốt châu Giang Nam cũng đáng để Lưu Bị cử binh sang thăm hỏi lắm.
Theo ngu ý của Chủ Blog này thì đó chính là tính toán, là “tim đen” của Lưu Bị. Về phương diện này những “chí lớn” như Lưu Bị và Gia Cát Lượng ắt đã gặp nhau khi quyết định chiến dịch phiêu lưu quân sự đánh Uyển Thành. Như vâỵ Quan Vũ là một con tốt được Lưu Bị và Gia Cát Lượng ném qua hà, một thứ “ tiền đạo cắm” của Lưu Bị xua qua để thử phản ứng, thử thời vận và còn để nhử mồi đao binh, một “sự kiện Vịnh Bắc Bộ” thời Tam Quốc...
Một vấn đề khi con tốt này gặp nguy, thế tại cả Lưu Bị lẫn Gia Cát Lượng đều tịnh không có một hành động ứng cứu tượng trưng nào? Gia Cát Lượng ngoảnh mặt đi thì đã rõ, vậy còn “tình nghĩa vườn đào” đối với Lưu Bị chẳng lẽ đã quên?
Của đáng tội, Lưu Bị có sai Lưu Phong-Mạnh Đạt đi cứu nhưng hai vị này không chịu cất quân đi, lấy cớ là ở nhà giữ thành. Vì hành động này mà sau đó ông con nuôi Lưu Phong mất mạng.
Thực ra Lưu Phong không đi cứu Quan Vũ cũng có cái lý của Lưu Phong, ngoài cái lý Quan Vũ bình thường vẫn coi Lưu Phong không ra gì. Lưu Phong không cất quân đi cứu Quan Vũ trước hết xét thấy mình không phải là đối thủ của Tôn Quyền, giữ thành thì được còn mang quân ra khỏi thành để ra mà chọi nhau ăn thua với quân Tôn Quyền thì Lưu Phong thấy không đủ sức. Mặt khác, Lưu Phong cũng đánh hơi thấy: Lưu Bị đã có ý bỏ rơi Quan Vũ rồi thi mình có cất quân đi phỏng có tích sự gì, chỉ mang dầu đi chữa cháy.
Thế tại sao Lưu Bị lại cho chém Lưu Phong; đây chẳng qua là động tác giả để che dấu cái tâm hiểm độc muốn bỏ rơi ông em của Lưu Bị; Nói chính xác hơn, Lưu Bị đã sử dụng cái đầu ông em Quan Vũ, kết nghĩa vườn đào thề cùng sống chết để nhằm mục đích làm mồi câu nhử những con cá ngao chính trị khác…
Theo chủ Blog, Lưu Bị chủ trương “thanh lý” con tốt Quan Vũ bởi xét thấy vào thời điểm đó: lợi ích mà Quan Vũ có thế mang lại được cho Lưu Bị thì ít, Quan Vũ già rồi, nhưng đãi ngộ thì không chừng nào cho vừa. Lưu Bị thí tốt Quan Vũ để có cớ phát động một chiến dịch quân sự lớn nói chuyện phải trái với Đông Ngô. Như vậy “dự án”này sẽ là tiền đề cho một “dự án” cấp nhà nước khác lớn hơn.
Nếu Lưu Bị có cử binh đi cứu Quan Vũ thì khi cứu được về Lưu Bị cũng phải chặt đầu Quan Vũ. Bởi lúc này là quan hệ vua tôi chứ không lơ mơ anh anh tôi như trước đây: quân thua chém tướng. Vào triều thì phải đi theo bước của cung phi, một kẻ đầu nóng, tim nóng, ngông ngạo như Quan Vũ thì khó lòng bảo toàn được thủ cấp. Nếu Lưu Bị cứ tiếp tục giữ quan hệ xuề xoà, huynh huynh đệ đệ với một ông mãnh như Quan Vũ thì làm sao sai phái các tướng khác dốc lòng dốc sức. 
Khi xưa sau trận Hoa Dung, Quan Vũ tha cho Tào Tháo, nếu là tướng khác thì khó lòng giữ được mạng sống; Lưu Bị cho qua bởi nếu chém Quan Vũ sẽ làm tổn thương đến cái gọi là tình nghĩa anh em trong nội bộ quân mình, là chiêu thức mà Lưu Bị đang cần giương cao để chiêu binh, mãi mã, thu phục nhân tài.
Vào thời điểm đó, Lưu Bị đang trong thế thắng và đang cần người do đó chém tướng là điều khó lòng làm công tác tư tưởng với ba quân. Sau trận Uyển Thành, để Tôn Quyền “thịt” Quan Vũ, về chính trị thuận cho Lưu Bị và “được giá” về quân sự vì có cớ cử binh phạt Ngô.
Tào Tháo và Tôn Quyền kẻ sớm người muộn cuối cùng đều đã nhận ra độc chiêu này của Lưu Bị. Do đọc, tính ra nước cờ hiểm này, hiểu rõ tim đen, hiểu rõ thế, lực lẫn cuồng vọng của Lưu Bị nên để đối phó với 3 vạn quân của Quan Vũ, Tào Tháo đã cử năm cánh quân đi cứu viện cộng thêm 10 vạn quân đi sau tiếp ứng. Việc cử binh này của Tào Tháo vừa để diễu võ dương oai, vừa nhằm đập tan từ trong trứng cuồng vọng nhòm ngó lãnh thổ của Lưu Bị. Điều này giống với các cuộc tập trận trên biển Hoàng Hải gần đây của Mỹ và một số cường quốc khác trước cuồng vọng lãnh hải của Trung Quốc.
Kết cục Quan Vũ đã bị quân Tào đánh cho tơi tả. Do hiểu được cuồng vọng của Lưu Bị và mối quan hệ giữa Lưu Bị và Quan Vũ nên Tào Tháo đã không cho quân truy tới cùng mà nhường chiến công truy sát Quan Vũ, anh hùng nổi tiếng một thời cho Lã Mông, Phan Chương. Đám Trương Chiêu của Tôn Quyền cuối cùng cũng hiểu rõ nước cờ “ thí tốt” của Lưu Bị nên mới khuyên mang thủ cấp Quan Vũ nộp Tào Tháo nhằm mục đích vu vạ cho Tào Tháo. Tháo biết tỏng âm mưu này nên đã cho làm đám tang cho Quan Vũ còn hậu hơn, đình đám hơn những tướng lĩnh của mình khi chết trận...
Tóm lại cử Quan Vũ xuất binh đánh Uyển Thành là một “dự án cấp nhà nước” đã được Lưu Bị “lập trình phê duyệt” sẵn; Tào Tháo là “nhà doanh nghiệp” lớn nên đã xúc tác, “đầu tư cổ phiếu” cho “ dự án” này sớm được triển khai...
Mối quan hệ “kết nghĩa vườn đào thề cùng sống chết” của 3 anh em Lưu, Quan, Trương được người Trung Quốc nhắc tới nhiều suốt gần 2000 năm qua như một thứ khuôn mẫu về tình nghĩa thuỷ chung, sống chết có nhau của những con người cùng chí hướng. Qua những gì diễn ra trong mối quan hệ giữa Lưu Bị và Quan Vũ, theo chủ Blog này, thứ tình nghĩa “anh anh, em em” này chỉ tinh khiết ở chốn vườn đào, hoặc khi họ còn chung với nhau ở chốn lều tranh, khi đang cùng nhau trên đường thiên lý, đỏ lửa gian truân. Mỗi khi kẻ đã là vua và người đã thành tôi thì xin chớ có mơ hồ, ai an phận nấy. Ai không biết yên chỗ của mình, lộn xộn vượt qua giới hạn thì chỉ có thể nói chuyện với nhau bằng mạng sống...
Qua thân phận của Quan Vũ, người em kết nghĩa của Lưu Bị, hậu thế thấy được cái ngọn cờ giả nhân giả nghĩa mà Lưu Bị giương lên đó không chỉ đã che mắt, mê dụ được khối người đương thời mà còn làm cho biết bao bậc thức giả Trung Hoa gần 2000 năm nay vẫn còn xúm vào xây đền, đúc tượng...
Qua vở “kinh” kịch Quan Vũ bị giết ở Uyển Thành, hậu thế nếu nghiên cứu kỹ sẽ có điều kiện hiểu sâu thêm các “đại gia” thời Tam Quốc đã kết nghĩa đồng minh, đã chơi với nhau và đánh lộn nhau như thế nào...
Chắc các con cháu hậu sinh của những ông Lưu, ông Tôn, ông Tào này cũng chẳng kém hơn về dã tâm, về mưu mô quỷ quyệt nhăm đạt cuồng vọng bá quyền, tranh giành lãnh thổ, đất đai, hải đảo…
                               
                                ( Nguồn: PV Đào - VietNamNet…)

Anh là ai?



Như đã nói, anh hứng mần lục sử là mần, không theo thứ tự thời gian, phần nầy, anh nói về bạn Kpă Klơng, để cho dễ đọc anh Việt hóa ra cho dễ đọc thành Kờ-Pa-Kờ-lâng, vậy anh là ai??
Sử Việt do các bạn đít thâm nổi tiếng bạn anh chép rằng:”Kpă KLơng hay Kpa Kơ lơng (1948-1975) là một anh hùng lực lượng vũ trang của Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam, người dân tộc Gia Rai ở tỉnh Kon Tum, Việt Nam. Ông đã tham gia Chiến tranh Việt Nam với tư cách là một đội viên du kích từ khi mới 15 tuổi, và sau đó là một chiến sĩ trinh sát của bộ đội huyện Chư Prông từ năm 1965, đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông nổi tiếng với biệt tài bắn "xuyên táo", có thể nổ súng giết nhiều kẻ địch với ít viên đạn. Khi 13 tuổi, ông xin tham gia du kích nhưng không được vì còn nhỏ. Tức giận, ông chỉ dùng cung tên mà đã giết được 3 lính địch nên được nhập vào du kích. Khi mới 15 tuổi, ông đã đánh 30 trận, lật 8 xe cơ giới và giết 88 địch”. Còn (Theo Báchkhoa Toàn thưt Việt Nam): ” ông tham gia chiến đấu 32 trận, diệt 124 địch (có 6 lính Mỹ), phá huỷ 7 xe quân sự và là chiến sĩ trinh sát gan dạ, bắn giỏi đồng thời là một trong những người diệt nhiều địch nhất trên chiến trường Tây Nguyên.
Ngày 17 tháng 9 năm 1967, ông được tuyên dương Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Tên ông đã được đặt cho một trường trung học cơ sở ở xã Chư Ngọc, huyện Krông Pa (Gia Lai) và một đường phố, một vườn hoa ở Gia Lai. Ngoài ra tên ông còn đặt cho một giải chạy việt dã do tỉnh Gia Lai tổ chức”. Còn đây có hẳn cả một phóng sự về anh http://baogialai.vn/channel/1622/2009/02/859065/.
Dũng sĩ Kpă Klơng trong ký ức đồng đội
Cập nhật lúc 08:47, Thứ Tư, 18/02/2009 (GMT+7)
Trời mưa, con đường vào làng Quen Rai (xã Ia Me, Chư Prông) trơn trượt và lầy lội. Vậy mà, khi biết ý định của chúng tôi, Bí thư Đảng ủy xã Rơ Mah Chi rất vui và vô cùng hăng hái. Sau một cái khoát tay, anh cùng chúng tôi tới nhà ông Kpuih Blang- người Xã đội trưởng năm nào của Anh hùng Kpă Klơng. Ông Kpuih Blang mấy bữa nay không được khỏe, vợ ông- bà Siu Jek đang lui cui nấu cháo. Khi chúng tôi tới, người chạy ra, đón vào nhà lại là ông Siu Blang- đồng đội năm xưa của ông Kpuih Blang và Anh hùng Kpă Klơng, bởi “Mình quen đón khách cho Kpuih Blang rồi, ngày nào mình cũng qua chơi mà”.
Làm văn nghệ cũng là đánh Mỹ
 Những đồng đội năm xưa của Anh hùng Kpă Klơng còn lại chẳng mấy người, ông Kpuih Blang nhẩm tính, vừa tròn cả 5 ngón tay: Gồm ông, Siu Blang, bên Ia Pia có Kpă Hian, Kpă Hiơng, Kpă Iơng nữa, mấy người đó là cậu của Klơng đấy. “Blang quên kể tên mình rồi- bà Siu Jek bất ngờ quay sang tôi thì thầm- Mình trong đội văn nghệ xã cùng Klơng mà. Hồi đó, lần nào tới xem, Blang cũng khuyên đội văn nghệ cố gắng hát cho hay, múa cho giỏi, Blang còn bảo: “Mặt trận nói làm văn nghệ cũng là đánh Mỹ đó”, mấy lần Klơng xin vào du kích, Blang cũng nói như thế, đâu đã đồng ý để Klơng làm du kích đâu”.  Vậy là, đắm mình trong lời kể của mí Jek, trước mắt tôi đang dần dần hiện hữu một Kpă Klơng những năm lên 10, 11 tuổi, đứng đến ngang lưng người lớn với đôi mắt đục mà sắc, vầng trán rộng, sáng, rất lỳ và đôi môi mọng đỏ lạ lùng. “Klơng hát hay, nhớ bài nhanh và dễ dàng, giống như việc hàng ngày mình chỉ cần chạy tới suối Ia Pia là có nước để uống vậy- mí Jek bồi hồi kể- Klơng được cả đội tin yêu, được cả bộ đội thương mến. Nhưng đến năm 13 tuổi, lúc cha Klơng- một trong những người đi đầu của cuộc nổi dậy Pak Jô bị bắt, bị bọn Mỹ dùng thứ cọc sắt 3 cạnh sắc bén bổ trên đầu, trên ngực, trên lưng, tóc ông nổi lềnh bềnh trong nước suối Ia Pia thì Klơng đã rực lên ngọn lửa quyết tâm, ngay trong đêm tới gặp Blang: “Anh Blang, anh phải cho Klơng vào du kích, Klơng muốn đánh giặc”. Nghe Blang bảo”Klơng muốn làm du kích à, chưa được đâu. Klơng còn thấp hơn cây súng cạc-bin mà. Klơng làm văn nghệ xã thôi, làm văn nghệ cũng là đánh Mỹ mà...” thì giọng Klơng trở nên hừng hực: “Không, Klơng muốn lấy máu giặc kia!”.
Mũi tên A-kam và món quà mừng tuổi mới
Nghe vợ kể chuyện mình từ chối Klơng vào du kích không chỉ một lần, ông Kpuih Blang trầm ngâm nhìn mãi ra khoảng sân trước mặt. Trời vẫn ào ạt mưa. “Cái cơn mưa này cũng dai dẳng, cũng dữ dội, cũng nhiều như ý chí của Klơng vậy- ông chầm chậm mở lời- Hai lần xin mà chưa được vào du kích, Klơng đều im lặng ra về và tự tìm lấy cái cách giết giặc của riêng mình. Lần đầu, Klơng đem về 5 cây chông, cả 5 đều đẫm máu. Là Klơng cắm ở gần suối Ia Pia, nơi bọn biệt kích hay đi tuần, “không bị thương thằng nào, chết hết. Klơng theo nó ra đến đường lớn, thấy nó bỏ xác 5 thằng lên xe rồi mới về đây”. Lần thứ hai, Klơng dùng một mũi tên rút trên giàn bếp chạy ra đường Plei Me, thấy thằng lính chỉ bị thương, Klơng bèn chạy ngay về hỏi mí và tìm tới nhà cụ Sơt- người còn giữ và biết tạo ra những mũi tên thuốc độc A-kam. 3 mũi tên, 3 thằng ngụy chết trên đường 14, không chỉ thế, bọn chúng còn bị một phen kinh hồn. Cụ Sơt ra tận đầu làng đón Klơng, dẫn về nhà Ơi (nhà ông Kpuih Blang- N.V) bảo: “Blang, thằng Klơng xứng đáng là du kích Jrai mình rồi đó. Hãy giao cho nó một khẩu súng”. Ơi trao súng và 3 viên đạn cho Klơng: “Du kích Klơng, 3 viên đạn đây, mỗi viên đạn phải lấy đầu 1 thằng giặc”. Nhưng 3 viên đạn ấy, Klơng mới dùng có 2 thôi đã chết 7 thằng giặc còn 1 thằng bị thương; viên thứ 3, Klơng đem về trả lại cho Ơi. Năm sau, khi Klơng 15 tuổi, Ơi  mừng tuổi nó 4 quả mìn. Klơng đem mìn ra đường Plei Me đi Thăng Bình, chỗ ngọn đồi trống ven đường, nơi bọn giặc thường chiếm để yểm hộ cho xe đi. Cả 4 quả mìn chớp nổ. 1 trung đội, 50 tên, chết cả, ngọn đồi sạch quang bóng thù”.
Và những cách đánh giặc không thể nào quên
 “Klơng đã sáng tạo ra những cách đánh giặc không thể nào quên- ông Siu Blang cười rất tươi khi nhắc lại chuyện cũ- Đầu tiên là cách bắn xâu táo. Khi viên đạn đầu tiên trong đời của Klơng xâu luôn 1 hàng 5 tên, tất cả du kích trong làng đều truyền nhau để học theo lối xạ kích đặc biệt này. Còn với Klơng, không trận nào Klơng chịu đổi 1 viên đạn, 1 đầu thù. Trận ở trên rẫy, Klơng bắn 3 viên đạn, hạ 7 tên; trận đánh bọn tuần đường Plei Me, Klơng bắn 7 phát, 19 tên lìa đời... Sau bắn xâu táo là những trận đánh mìn kỳ lạ- như một loại mìn “có mắt, biết đánh hơi kẻ thù”. Ở cầu Ia Pia, ở suối Ia Kle, ở đường Plei Me đâu đâu cũng gặp xác thù trôi nổi vì “gặp mìn” của Klơng”. Rồi bất ngờ, giọng ông Sui Blang trở nên xúc động lạ thường: “Cái lần cả đội đánh mìn trên đường Plei Me, diệt gần hết 1 trung đội dân vệ năm 1965 là tôi nhớ nhất. Khi bọn giặc ồ ạt tiếp viện, Tiểu đội trưởng Thia ra lệnh lui quân, đến trưa cả đội mới về đến làng, kiểm tra hàng ngũ thì thấy thiếu Klơng. Cụ Sơt vào nhà, rút mấy mũi A-kam, quát lớn: “Đi tìm thằng Klơng, đi ngay, đi với tau”. Chúng tôi ra con suối đầu làng thì gặp Klơng đang rửa vết thương. Cụ Sơt ôm Klơng vào lòng, còn Klơng thì vẫn cười: “Klơng ở lại đánh cho các anh rút. Bọn giặc đông quá, bắn không được, Klơng nằm im. Thấy chúng tới gần hơn, Klơng mở lựu đạn, để xì 3 giây, tống một quả. Chúng mất đầu 3 thằng, sợ quá, bọn kia chạy hết...”. “Tại sao Klơng không nghe lời”-anh Thia hỏi. Klơng vẫn cười: “Klơng có nghe chứ. Nhưng rút cả rồi ai chặn giặc cho các anh lui. Lúc đó em bị thương rồi. Em ở lại, em chết cũng được vì em còn nhỏ, làm được ít việc. Các anh phải sống, các anh là cán bộ, làm được nhiều việc cho dân mình”.

...Quanh chỗ chúng tôi ngồi, giờ đây đang chảy mãi những nỗi xúc động đến vô cùng. Mí Jek thì cứ cặm cụi thổi  cho ngọn lửa trong bếp tràn ra. Ông Sui Blang thì lặng lẽ nắn nắn đôi vai cho người Xã đội trưởng năm nào. Còn ông Kpuih Blang thì vẫn không nguôi nhìn ra ngoài trời. Ngoài đó, mưa vẫn dai dẳng rớt, diết da như những giọt nước mặn mòi, ép từ bời bời ký ức đang ngân lên trong đôi mắt đỏ hoe của ông. Ông vẫn đang nhớ về một con người Jrai tuổi thiếu niên, chí anh hùng.
Thu Huế
Anh đọc xong thật là vãi dắm, tài thật, tài đến thế là cùng, chỉ bắn có 2 viên mà 7 thằng địch lìa đời, 1 thằng bị thương, rồi bắn 7 phát hạ 19 tên, …thôi anh chỉ tập trung vào một số chỗ in đậm thôi. Đọc đoạn nầy xong cho ta suy nghĩ gì, theo anh lo-gic là phải nầy: Thấy bọn giặc được huấn luyện chính quy, thiện chiến mà như bọn trẻ con mới lên 3 tuổi nhưng nhát gan ấy nhở, khi anh hùng Klơng bắn phát đầu tiên chết 5 thằng xuyên táo ở một hàng, dưng bọn địch ở đó không thèm nhúc nhíc, sợ quá đứng im luôn một chỗ, sợ đến nỗi mà địch vẫn đứng yên ở hàng ngay ngắn, đợi anh Klơng bắn tiếp phát thứ 2, sau đó anh Klơnglại tiếp tục chạy qua hàng khác và ngắm bắn bóp cò, lần nầy đạn anh cũng xiên đến 4 dưng có 3 người chết, còn 1 người bị thương thôi, he he. Điều quá đặc biệt là khi anh Klơng  bắn xong phát đầu mà không bị ăn đạn của bọn giặc do sợ quá ấy mà, còn điều đặc biệt thứ 2 là gì, là nghe tiếng nổ và 4 người lính ngã xuống dưng các hàng khác vẫn đứng im không nhúc nhíc tiếp là sâu nhở, cứ cho là anh Klơng bắn bằng súng đạn 12,7 ly đi và khỏe như Ram-boo đi, loại nầy viên to dễ xiên táo hơn thì địch nó đã chạy tán loạn rồi, mần sâu mà anh Klơng  bắn tiếp phát 2 chỉ chết có 3 thằng 1 thằng bị thương nhở, nghe hơn cả chuyện cổ tích nhá. Hồi trước anh đọc xong mà cười phụt dắm, thế mà cứ ra rả ra rả niên nầy qua niên khác, trẻ con và người lớn trẻ con (loại nầy anh tính cả đám sử da đít thâm ở Việt, các giáio viên sử, sinh viên sử các loại và loài người già, trẻ, trai, gái có cái thủ dưng chỉ dùng mỗi chức năng đội mũ thôi) tuyền nghe và tin như thật 100%, đến giờ không tin về giở sách lịch sử của Việt và Bách Khoa toàn thư mà xem anh nói có đúng không??? Ai có con đang học phổ thông tra dùm anh phát xem nầu, trước anh học là có cái đoạn nầy đấy. Còn tiếp anh hi sinh năm 1975 khi anh 27 tuổi, anh tìm đỏ mắt trên Gúc không thấy bất kỳ một tấm hình nào của anh cả, thế mới tài, phóng viên và các đồng đội kể chuyện chiến đấu cùng anh thật là VCL.
Tóm lại cái đầu dùng để suy nghĩ chứ đừng để đội mũ như bây giờ là sẽ có nhiều cái hay ho, chứ học sử và vui vẻ như văn học chuyện cổ tích nầy thì bỏ mẹ cái khái niệm sử ra khỏi đời sống đi cho đỡ vướng nhở.


Việt Nam lục sử - Thục Phán ADV



Hôm nay, kỷ niệm chiến thắng Điện Biên phủ bất hủ, chấn động 5 châu 4 bể tuyền cầu một thủa, anh nổi hứng mần quả Việt Nam lục sử - trái với lịch sử của các  sử da bất hủ ở xứ nầy dư Lê Phan, Vượng Quốc, Quốc Dương, Lan Lê...đít thâm, chuyên ngồi sa-lông xào xáo lại và được đưa vào chương trình lịch sử dạy cho đám học sinh tuyền đọc-chép-chép, qua đó thủ tiêu mẹ cái đầu lâu của các ẻm học sinh, biến cái đầu lâu của các ẻm chỉ còn chức năng chính là đội mũ, mần cho các ẻm chỉ biết nghe thầy đọc - chép vào vở, sau đó đi thi lại chép ra giấy, chữ thầy gửi lại thầy. Anh không phải mần nghề sử, anh mần nghề cò, dưng anh thấy Lịch sử ở xứ nầy tuyền biên nhăng cuội nên anh phải mần cái mục LỤC SỬ để biên dững luận điểm cơ bản mà sách giáo khoa lịch sử và một số cuốn của sử da đít thâm sa lông ăn sẵn không hề có, có lần anh tranh luận với một đám sinh viên sử gì đó về một số vấn đề thì thấy các cháu  EM CHỈ BIẾT CÂM NÍN NGHE ANH NÓI, hê mượn tạm tên bài hát nào đó cho nó có tý sến, các cháu tranh luận kinh bỏ mẹ ra được, đúng dân SV sử, lấy dẫn chứng thì toàn lấy của các bác trên, hết sức thuyết phục, nếu dư  đó là một buổi trả bài của SV, he he he đương nhiên 10/10 điểm. Dưng anh chỉ hỏi vài câu theo lo-gic thông thường thì tịt mẹ, chứng tỏ các cháu cũng chỉ là đọc-chép-chép dưng cao cấp hơn bọn học sinh mà thôi, cái đầu chỉ có mỗi chức năng đội mũ.
Đơn giản lịch sử Việt lúc nầu cũng 4000 niên giữ nước và dựng nước, hay 4000 niên văn hiến, he he he và tất cả đều biểu quyết thông qua 100% dư vầy thì thành vầy, thế 4000 niên ở đâu ra, xin thưa ở trong sách Việt Nam sử lược ý. Thế 4000 năm thì tính từ lúc nào, xin thưa từ trên giời, tại sao anh bảo trên giời, vì thời đó cai quản xứ là con giời, đi mây về gió dư Tôn Ngộ Không bạn anh, có thể kể ra một ít như Sơn Tinh dời non lấp bể, Lạc Long Quân lấy vợ tên Âu Cơ là con giời (tiên nữ), rồi Thánh gióng, Chử đồng tử, ... he he he, thấy chưa, lịch sử mà như trên giời thế kia thì biên ra cho ai tin, cái bọn có đầu lâu dùng để nghĩ dư anh hai đây có tin  cái dắm ý nhở. Đối  mới anh hai thì trọng chứng hơn trọng cung, có nghĩa là nói 4000 niên lịch sử thì phải đưa ra chứng cứ rõ ràng, chứ không chỉ nói suông. Mà chứng thì có ở đâu, lại ở trên giời nốt, vì thế cho nên lịch sử Việt không thể nói 4000 niên được mà chỉ có hơn 1000 niên thôi. Chỉ khi sách vở ghi chép được thì tính là lịch sử chứ không nhận bừa, anh thử kể tiếp 1 vài đời đầu của sử Việt để tham khảo, thời kỳ nhiều triền thiết nhứt đương diên là thời hồng hoang của Kinh Dương Vương, Xích Qủy và đặc biệt là 18 đời vua Hùng, sau đó đến Thục phán An Dương Vương cũng là triền thiết là chủ yếu, trải qua Hai Bà Trưng, Lý Bí (Vạn Xuân 544 ) cho đến Ngô Quyền 938 với chiến thắng Bạch Đằng, thời nầy lịch sử theo ý anh là do ý giời và xuất phát từ trên giời, đương diên chả đáng giá 1 chinh mẻ nầu.
Sau đây anh sẽ lấy chứng cứ từ trong lịch sử và lục sử ra một số điểm cực kỳ vô phi (vô lý và phi lo-gic), anh không theo từng thời mà nổi hứng biên ai trước thì biên, trước tiên anh biên về bạn Thục Phán, về sự tích áo lông ngỗng và chạy vào Nghệ An để tự tử.


Thuyết chạy loạn của Thục Phán theo các sử da đít thâm sa lông phán là do chạy từ Cổ Loa thành vào tận Nghệ An bằng ngựa, anh thì anh không nghĩ vậy, chỉ cần lấy các luận điểm ở trong sử là có thể kể ra rất nhiều chuyện vô lý.
Thứ nhứt: Chạy bằng ngựa từ Cổ Loa thành vào tận Diễn An –Nghệ An là cả quãng đường dài 300 Km, lại chở cả Mỵ Châu ở sau thì ngựa đó chắc ngựa thần nhể, mệt bỏ bà được ý, ngựa chạy một lúc là phải thay ngựa khác chứ, như dưn Mông Cổ hào hùng, di chuyển đứa nầu chả phải có ít nhứt 2 con để thay thế, và di chuyển một ngày cũng chỉ hơn 100 Km là nghỉ mẹ dồi, về chi tiết nầy anh suy nghĩ là do người tướng quân hồi đó ra trận nếu thăng đường thì lấy  da ngựa bọc xương nên anh đồ là dân gian truyền miệng là Thục Phán chạy bằng ngựa thật, dưng chỉ là triền thiết, chả đúng tẹo nầu.

Thứ nhì là: Hồi hổi dững niên trước CN, đất nước Âu Lạc là một mớ hổ lốn gồm ao hồ, sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, chằng chịt như mạng nhện chia cắt đất nước tứ tung, chạy bằng ngựa cũng là ngựa thần nhể, cỡ ngựa xích thố của Quan Vũ cũng léo thể lội qua khi nước ngập mẹ cổ, chi tiết nầy càng vô lý, ai tin chứ anh léo thể tin được. Anh lấy tiếp một chi tiết mà ai chả biết đó là khi bạn anh Lý Thái Tổ đọc chiếu dời đô từ Ninh Buồn về Hà Lội thì nội các chính phủ của bạn ý lúc đó di chiển bằng gì nhể, bằng ngựa chắc, sai hoàn toàn. Lúc đó giao thông từ Ninh Buồn lên Nội chỉ có thuyền thôi, làm gì có đường đất cho các bạn ý chạy, nên chính phủ bạn anh lúc đó di chuyển bằng thuyền, ngựa có đi được kức nhể, đó là 1000 niên sau Thục Phán mà phương tiện di chuyển chính của quốc dân đồng bào là thuyền đấy, ngựa thì chỉ đi đoạn ngắn thôi, còn trước đó tận hơn 2000 năm thì tự hiểu, liệu có đi được không?
Thứ 3: cái nầy mới là cái chính, đi ngựa thì Thục Phán ADV có gặp được rùa thần không nhể, đi ngựa tuyền trên đường, rùa thần ở biển cơ mà, thế thì gặp bằng niềm tin à, cái nầy xem thì đã thấy vô lý rồi, chạy bằng thuyền thì mới gặp nhau ở trên biển được chứ. Sẽ có người thắc mắc mới anh là hồi đó giao thông tuyền đường sông sao lại phải đi bằng đường biển. Dễ thôi, đến thời giờ cũng chả có con sông nầu chảy xiên từ Cổ Loa thành trong cổ tích đến núi Mộ Dạ cả, càng đọc càng thấy sử Việt vô lý chết đi được.
Thứ 4: Các nhà sử đít thâm Sa Lông ngồng cải chấm trừng xứ nầy bỏ qua một chi tiết cực kỳ quan trọng, trong sách sử léo bâu giờ nhắc đến dù chỉ một tý ti, đó là ở cửa sông Cấm chảy ra biển tại cửa biển Nghi Thiết, Nghi Lộc, Nghệ An có am thờ Thục Phán An Dương Vương, chi tiết nầy đến giờ anh mới biết. Từ khi anh  nghi ngờ bạn Thục Phán chạy bằng ngựa Xích Thố của Quan Công từ Cổ Loa thành vầu tận Nghệ An là anh đã đặt câu hỏi, có lần anh lang thang mạn đó thì vô tình phát hiện ra am thờ nầy, anh thắc mắc ngay, tại sao chi tiết nầy trong sử anh tìm đỏ mắt léo thấy bâu giờ, khi anh lấy dẫn chứng cho bọn sinh viên sử của 1 trường đại học léo gì ở Hà Nội, chúng nó ớ mẹ người, như thằng ngọng, tưởng anh Nô Đức Nổng Ver 2, chiên gia Nô và Nổng. Nên Anh tái thay mặt anh kết luận Thục Phán chạy loạn từ Cổ Loa vầu đây chắc chắn bằng thuyền chứ léo thể bằng ngựa được, vì các lý lẽ trên. Trở lại núi Mộ Dạ nơi có đền thờ của Thục Phán tý nhể, Có lần anh đi Diễn An chơi, tiện đó đi bộ khảo cứu luôn, thăm thú mất 1 ngày, anh hỏi han các cụ bô lão, các kụ bẩu, hồi xưa cách đây tầm 100 niên, cái Đền Cuông nằm sát biển, cách biển gần lắm, dần dần sông cứ bồi dần dần, rồi lấn ra biển được gần 2km như bây giờ, các kụ bảo thế, dưng anh thấy có lý, vì anh hỏi đến các kụ già tầm 70, 80 tuổi còn bẩu Đền  Cuông cách đây tầm 50 niên chỉ cách có vài trăm mét thôi, và hàng năm đất ở đó vẫn tiếp tục lần ra biển. Điều đó rõ là có thể thời đó Đền Cuông bây giờ nằm sát biển, còn ở ngay cửa sông Cấm, con sông uốn lượn quanh co ở vùng đó cho đến khi đổ ra biển có am thờ Thục Phán ADV tại  Nghi Thiết, Nghi Lộc là nơi Thục Phán ADV có ghé qua, anh sẽ chụp cái ảnh địa hình tại năm 2011 về toàn vùng nầy thì sẽ thấy rõ hiện tại cả vùng nầy gồm từ Đền Cuông ở núi Mộ Dạ kéo dài đến cửa biển có rất nhiều ao hồ, đầm lầy và sông suối, có thể 2000 niên trước là một dải sông liền với nhau. Anh chỉ lăn tăn là Thục Phán chạy bằng thuyền thì vào đến cửa sông Cấm (có am thờ) sau đó trên đường ngược lên núi để trốn vào rừng thì chết ở Đền Cuông bây giờ, hay là chạy bằng thuyền đến Mộ Dạ sau đó đi dạo ra đến cửa sông Cấm thì tự tử cho hết nổi nhục mất nước, chỉ thế thôi, bàn là bàn cái đó. Anh chụp tạm cái cái ảnh trên Gúc bạn anh niên 2011 đời Trọng Phú thứ nhứt sẽ rõ. Anh chụp qua Gúc vị trí am thờ ADV ở cửa biển Nghi thiết nầy.

Thứ 4: Áo lông ngỗng thì rắc được mấy hồi thì hết mất nhở,    chưa kể rắc trên đường gió nó thổi cho bay mất dấu ngay và luôn phỏng.


NGÀY 17 THÁNG 2 BUỒN


Ngày nầy cách đây 34 niên,  anh chả nhớ chỉ nghe bà Ma kể ngầy nầy năm 1979 anh tròn 2 tuổi 2 ngày, anh sinh nhằm ngày 15-2 cùng niên, bà Ma anh đang ở Thành phố cách xa thủ đô ngàn niên văn vật 2 tý thì nhận được lệnh sơ tán tránh chiến tranh xảy ra do các đồng chí Khựa với 16 chữ vàng từ Phương bắc đánh tới. Lớn lên dòng đời xô đẩy, loanh quanh luẩn quẩn chỉ chả bao giờ quan tâm đến thời tiết, thời sự, ti vi vớ vỉn, anh chỉ biết xem giá vàng hôm nây thế nầu, bao nhiêu ông Cụ ăn một Tơn? Rồi cũng chộp giật buôn bán lăng nhăng để kiếm sống đặng qua ngày, lăn lộn vật vã phết.
Hễ cứ đến ngày đêm ngày 16 rạng ngày 17-2  là anh lại xem tình hình thời sự năm nay hay chương trình sáng hôm sau có nhắc đến thời khắc có tính lịch sử của cả dân tộc Việt hay không? Kể cả tối hôm qua và sáng hôm nây anh dậy sớm xem thời sự từ lúc 6h, vợ anh thấy lạ, bẩu cả năm chả xem thời sự hay tivi bâu giờ sao 2 ngày nầy lại về theo dõi và chăm chú nữa, vợ cũng chả thắc mắc, lại tự hỏi anh xem chương trình lễ hội gì à hay xem cúng rằm tháng Giêng tên Tivi. ĐCM anh chán cũng ậm ừ cho qua chiện chứ chả giải thích léo gì. Anh xem để có dòng tin tức và thông tin nào về ngày 17-2 không, ngày mà các lồng chí Khựa đểu giả dạy cho các em một bài học mà hộc máu mồm ra không? Tuyệt nhiên chả có, xong thời sự anh đi làm luôn sớm hơn thường lệ, lòng buồn nặng trĩu chả thèm ăn uống vào ngay In-tẹc-nét xem cũng chả thấy có 1 báo Ngồng cải chấm trứng nào nhắc đến thời khắc lịch sử cách đây 32 niên của cả một dân tộc anh hùng? 

Anh làm mẹ phép tính thống kê, anh hỏi bất cứ đứa nầu mà anh gặp ở buổi trưa khi đi ăn cơm uống nước về, anh hỏi hôm nây ngày gì gì nhể, anh hỏi 20 đứa, 10 đứa ngắc ngứ, bảo là thứ 5 ngày 17, còn 10 đứa bẩu là ngày rằm tháng Giêng âm lịch, anh hỏi cả các anh già hói nhiều niên hơn anh mà cũng chỉ trả lời là ngày rằm chứ ngày gì. DCM nản quá, đến như một thế hệ dững niên 1979 từng một thời với 17,18 tuổi hực hực khí thế từ ghế nhà trường đi thẳng lên biên giới phía Bắc với lòng quyết tâm là hành trang chính thế mà dễ quên như cô gái đỏng đảnh đang tuổi yêu tuổi lớn. Anh hai chán chả them quan tâm phi sang hiệu sách Tiền Phong đối diện xem sách Lịch sử nó có ghi về thời kỳ nầy không? Ít ra còn được tý an ủi hoặc khúc khích, chứ bây giờ lớp trẻ xem phin Tung-của nhiều quá nên có thể quên mất Lịch sử nước nhà rồi cũng nên. Mà dân ta phải biết sử ta, cái gì không biết thì tra Gu-gồ (bạn anh) là ra ngay mà. 

Anh qua mua 1 quyển sách Lịch sử lớp 12, cả 1 mốc lịch sử như thế, hi sinh anh dũng bao nhiêu người dư thế mà chỉ có nhõn 9 dòng, thật sự nản, càng nản anh lại càng ghét cái bọn Kền kền chiên rỉa xác chết mà có cái danh xưng là Phóng tinh viên Sa lông ngồng cải chấm trứng, thứ nữa là cái bọn Sử da, riêng bọn nầy cho phép anh chửi địt mẽ cái bọn Sử, cái bọn Tiến sĩ Sử, cái bọn ngâm cíu sử, cái bọn như Lan Lê Lợn, Quốc Dương Chó, Lê Phan buỗi,...cái cho đỡ bực.

Trang 207 - sách Lịch sử 12 năm, sản xuất tháng 1/2010 chỉ có thể nầy:
Nhìn rõ hơ nầu, anh chụp cận cảnh nhé:
Anh mua thêm cuốn sách Bài tập lịch sử xem thế nầu, giở mỏi hết cả tay về phần nầy mà không thấy gì cả, tộ sư cái bọn mất dậy:
Trang sau 133 tiếp sau cũng chả thấy chữ gì  về ngày nầy cả
 Anh lật phát nữa xem thế nầu nầu, à trang 134 có 2 dòng nhắc đến năm 1979, điền đúng hay sai thôi:


Anh chụp phát cho rõ ràng con nhà hàng nhể, quả nầy ghi ngày 17-12-79 đúng hay sai, he he he, học lịch sử vui nhể:
Anh Hai lật phát nữa xem có dòng nầu nữa không nầu, so ghi ít thế nhể, cuối cùng trang 136 cũng có 1 dòng đơn giản nói về mốc lịch sử nầy, anh chán quá, ở đó có 2 mốc là ngày bắt đầu là ngày 17-2 và ngày kết thúc là ngày 18/3 mà thôi, anh chụp phát dồi đi bú bia suông thôi.


Thôi, trong triệu người quên có một người nhớ, 1 người nhớ như anh Hai đây hơn cả triệu người quên thì mong cũng được an ủi phần nao trong ngày lịch sử nầy. DCM.






 
Support : Creating Website | Johny Template | Sông Hàn chỉnh sửa
Copyright © 2011. Phang Phập - All Rights Reserved
Template Modify by Phang Phập
Proudly powered by ĐĂNG NHẬP